Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Học cách suy nghĩ khôn ngoan để sống và thành công

Những vết hằn của thời gian thoáng hiện và rõ dần trên gương mặt khi chúng ta bước qua những tháng năm của đời người. Dòng chảy ấy đưa chúng ta đến ngày càng gần hơn với những giới hạn của thân xác con người.
Ai cũng sẽ đến lúc già đi và rời khỏi cuộc sống này, vì vậy mỗi ngày sống là mỗi ngày hết sức ý nghĩa – cho ta cơ hội để khám phá vô vàn những bí ẩn kỳ diệu và tận hưởng những điều thú vị của cuộc sống bao la.
Vậy mà không ít người đã “giam cầm” mình trong quá nhiều giới hạn, mà nhà tù lớn nhất mỗi người tự đưa mình vào là “nhà tù tâm trí”; cụ thể là: chúng ta không cho phép suy nghĩ của mình vượt ra khỏi cái khuôn hạn hẹp sẵn có, để rồi cuộc sống ta ngày càng trở nên nhàm chán, tù túng, bế tắc và mất vui đi rất nhiều.
Lúc vừa mới sinh ra, não chúng ta chưa có những kết nối thần kinh, nhưng sau đó không lâu – chỉ trong vòng 3 năm đầu đời, não có hơn 15.000 kết nối thần kinh. Đến tuổi trưởng thành, não đã tiếp thu được một khối lượng kiến thức và thông tin khá lớn từ thế giới bên ngoài qua học tập, làm việc cũng như những trải nghiệm trong cuộc sống.
Những điều đó được chúng ta lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác, dần dần hình thành thói quen hay chính là thế giới quan của riêng mình. Khi đó, não chúng ta “tuyên bố”: “Tôi biết đủ rồi!”
Tuổi trưởng thành – lúc mà lẽ ra tâm trí của chúng ta bắt đầu có đầy đủ mọi điều kiện để tiếp tục khám phá sâu hơn, rộng hơn về cuộc sống, thế giới, con người và bản thân, thì lại là lúc chúng ta “nhốt” mình trong những điều đã biết và tự đóng sầm cánh cửa đi vào cuộc sống.

Từ lúc này, tất cả những gì thuộc về thế giới bên ngoài chỉ được não đón nhận và lý giải theo cách đã đóng khung, “thẳng thừng” từ chối hầu hết những gì khác lạ so với điều não chúng ta đã từng biết. Như vậy, cuộc đời chúng ta chấm dứt sớm hơn chúng ta tưởng vì chúng ta không thay đổi được cách nghĩ và cách đón nhận những điều mới mẻ trong cuộc sống này.
Benjamin Franklin đã có một câu nói rất đáng để mỗi chúng ta phải suy nghĩ, rằng: “Nhiều người chết từ năm 25 tuổi, và mãi đến năm 75 tuổi mới được chôn cất”.
Như vậy, một điều hết sức cần thiết và vô cùng quan trọng đó là phải thoát khỏi cái khung hạn hẹp đã trì níu không cho chúng ta nghĩ thoáng hơn, nghĩ lớn hơn, nghĩ khác đi và nghĩ phản biện lại những gì được dạy dỗ cách cứng nhắc, để không ngừng thu nhận nhiều hơn nữa từ cuộc sống, để không ngừng phát triển, và để tiếp tục sống cho đáng một cuộc đời.
Nghĩ thoáng
Những gì bạn từng biết chỉ bó hẹp ở miền đất nơi bạn sinh sống, trong những tình huống và hoàn cảnh mà chỉ có mình bạn trải qua, ở phạm vi rất hẹp của những kiến thức và kinh nghiệm của riêng bạn. Vì vậy, để có thể nghĩ thoáng, bạn phải mở rộng chiều kích suy nghĩ của mình ra không gian khác.
Khi bạn nghe những thông tin, một câu chuyện hay về một con người nào đó mà mình chưa từng biết đến bao giờ thì trước hết hãy đón nhận chứ đừng phê phán. Bạn không thể lấy những hiểu biết và trải nghiệm hết sức nhỏ bé và ít ỏi của mình ra để làm chuẩn đối chiếu và đánh giá về một điều khác lạ, mới mẻ hoàn toàn.
Ngoài ra, bạn hãy biết mở rộng chiều kích thời gian trong suy nghĩ để có thể nhìn xa hơn về tương lai. Cứ mãi lầm lũi sống mà mịt mù về tương lai thì rất dễ nản lòng và bế tắc. Nhìn về tương lai với niềm hi vọng luôn làm cho chúng ta vững vàng trước những nghịch cảnh hiện tại.
Nghĩ thoáng giúp chúng ta thu nhận cuộc sống và đón nhận người khác dễ dàng hơn, bớt khắc khe và phán xét hơn, và mở rộng được sự kết nối của bản thân với người khác và với thế giới. Để nghĩ thoáng, bạn hãy đi nhiều, đọc nhiều, đón nhận nhiều để biết rằng cuộc đời phong phú và có quá nhiều điều thú vị biết bao.
Nghĩ lớn
Tôi không tin là Vũ trụ đặt chúng ta vào cõi đời này chỉ để chúng ta cam phận sống một cuộc đời tầm thường. Bạn không phải là những gì bạn đang nhìn thấy, nhưng chính là những gì bạn thường xuyên nghĩ đến.
Đừng chỉ nghĩ về những gì đang diễn ra, mà hãy nghĩ đến cả những điều bạn chưa thấy bao giờ. Hãy dồn sức tập trung để nhìn về nơi muốn đến chứ đừng nhìn vào nơi bạn hiện đứng lúc này.
Hôm nay bạn đang ở vị trí này, nhưng hãy nghĩ về ba năm, năm năm hay mười năm nữa mình sẽ phải trở thành người có tầm vóc lớn hơn, thu nhập cao hơn và hạnh phúc nhiều hơn như thế nào.
Thế giới này thuộc về những kẻ dám ước mơ. Mọi thay đổi của cuộc đời bắt đầu bằng việc dám thay đổi suy nghĩ. Tương lai của bạn được hình thành ngay trong suy nghĩ của bạn hôm nay.
Khi chưa có thói quen và chưa biết cách để nghĩ lớn, bạn hãy thường xuyên gặp gỡ với những người nghĩ lớn, xem những cuốn sách khoa học viễn tưởng, đọc những bài viết dự báo về tương lai, và không ngừng rèn luyện khả năng tưởng tượng của mình. Bạn hãy luôn nhớ là không hề có giới hạn cho bất cứ một ước mơ nào của chúng ta.
Nghĩ khác
Luôn có một cách nào đó tốt hơn. Nhất định là như vậy, vì chúng ta đang sống trong một cuộc sống tiến hóa không ngừng. Vì thế đừng giới hạn mình trong những lối nghĩ cũ kỹ, rập khuôn, xưa cũ.
Tất cả mọi giải pháp trong cuộc sống chỉ có thể sử dụng một lần, vì một khắc trôi qua là thế giới và con người đang ở một thời điểm khác, không gian khác và vị trí khác, không có gì còn giống như cũ nữa.
Nếu bạn không nghĩ khác đi thì chính là bạn đang đi lùi lại so với sự phát triển. Đừng bao giờ cho rằng đã hết cách, hay đây là cách tốt nhất; đó có thể là cách tốt nhất trong hiện tại, nhưng vẫn có nhiều cách khác tốt hơn trong tương lai.
Chúng ta luôn mong muốn đạt đến sự hoàn hảo nhưng không bao giờ có sự hoàn hảo tuyệt đối; đó là điều thú vị mà cuộc sống ban tặng cho chúng ta, món quà đó mang tên: Không giới hạn. Hạnh phúc, niềm vui, thành công, thịnh vượng dành cho chúng ta là vô biên. Bạn có thấy cảm kích những điều vũ trụ này dành cho mình?
Trước mọi sự việc – dù là thành quả rực rỡ hay những thất bại đắng cay của mình, hãy luôn đặt câu hỏi: cách nào khác để kết quả tốt hơn? Với câu hỏi này, bạn sẽ bước vào cuộc chinh phục đầy hứng khởi để khám phá và tận hưởng cuộc sống kỳ diệu này.
Nghĩ phản biện
Mỗi chúng ta đều phải sống cuộc đời của chính mình, chịu trách nhiệm 100% về mình và không cuộc đời nào giống cuộc đời nào. Những kinh nghiệm của người này chưa chắc đã phù hợp với người kia, chúng có thể đúng trong trường hợp này nhưng lại gây nguy hại trong trường hợp khác.
Vậy thì đừng bao giờ vội tin tuyệt đối vào những gì bạn được nghe thấy mà chính bản thân bạn phải trải nghiệm. Những kinh nghiệm của người khác là cần thiết, đáng để chúng ta suy nghĩ và tham khảo, nhưng phải luôn tỉnh táo để có những hoài nghi khôn ngoan, vì điều gì cũng tin tưởng tuyệt đối và áp dụng triệt để ngay chính là ta đang đánh mất cuộc đời mình.
Để rèn luyện lối suy nghĩ phản biện, từ bây giờ, khi đọc thấy hoặc nghe thấy bất cứ một đúc kết nào, bạn cũng nên tự đặt ra nhiều câu hỏi để hiểu rõ hơn: Có cách nhìn nào khác hơn? Điều đó đúng trong trường hợp nào? Đâu là những hạn chế? Vận dụng như thế nào mới hiệu quả? Đâu là điều phù hợp với mình? Liệu cách này có thể cho ra một kết quả khác không?…
Sống, trải nghiệm và điều chỉnh liên tục thì bạn mới có được những kinh nghiệm của chính mình. Với những cách nghĩ không theo lối mòn như vậy, bạn sẽ phát triển tiềm năng bản thân nhiều hơn và đón nhận được rất nhiều từ cuộc sống phong phú này.
Nhưng để có thể “bẻ lái” được nếp nghĩ vốn đã bị đóng khung đó, chúng ta phải thật sự dũng cảm và khôn ngoan. Những thói quen, niềm tin, nếp nghĩ cũ luôn đem lại cho chúng ta sự thoải mái và an toàn. Chúng có sức mạnh ghê gớm lôi kéo ta ở mãi trong cái khung đóng sẵn đó và làm cho chúng ta thấy lo sợ mỗi khi nghĩ vượt khung.
Vì vậy, bạn cần phải hết sức dũng cảm để thách thức với chính suy nghĩ và tiếng nói luôn trì kéo ấy để vươn đến lối nghĩ khác hơn và tích cực hơn. Tuy nhiên, nghĩ khác, nghĩ lạ, nghĩ vượt khuôn khổ không có nghĩa là cứ nghĩ bừa, nghĩ càng mà đây là một quá trình rèn luyện có kiểm chứng kết quả.
Bạn cứ xem những gợi ý ở trên như những bài tập thể dục cho trí não. Sau mỗi lần tập, bạn phải đánh giá được hiệu quả và có những điều chỉnh liên tục để đạt được hoàn thiện về kỹ thuật và tăng dần thành tích.
Đó là cách học và rèn luyện suy nghĩ khôn ngoan để hướng đến mục đích lớn nhất trong đời là sống trọn vẹn: biết nhiều chiều kích của cuộc đời, cảm nếm được sự phong phú và dồi dào của cuộc sống, tận hưởng niềm vui sướng tột đỉnh vì chiến thắng được sức trì kéo của bản thân, và thật sự hạnh phúc vì phát huy được hết tiềm năng của mình...

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Bí mật người Trung Quốc nhan nhản ở Israel

(ĐVO) - Đây là một bài viết mới của tác giả Zakhar Gelman gửi về từ Jerusalem cho báo “Bình luận quân sự độc lập” (Nga) với tiêu đề “Người Trung Quốc học tiếng Do Thái”. Xin được lược dịch để bạn đọc tham khảo.  


Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nước có số lượng nhân viên ngoại giao ở Israel đông thứ năm trong số các nước có các cơ quan đại diện ngoại giao tại nước này.
Israel có quan hệ ngoại giao với 159 nước trên thế giới. Nhưng trong số đó chỉ có Mỹ, Anh, Đức và Ấn Độ là các nước có số lượng cán bộ nhân viên ngoại giao ở các đại sứ quán và cơ quan lãnh sự đông hơn so với Trung Quốc.
Thế nhưng, 4 nước kể trên là đồng minh chiến lược thân cận bậc nhất của quốc gia Do Thái, còn Trung Quốc chưa được xếp vào danh sách đó. Ít nhất thì cho đến thời điểm hiện tại đang là như vậy.
Vậy tại sao các nhân viên ngoại giao Trung Quốc lại “tràn ngập lãnh thổ” của đất nước của những bức tường bê tông? Hay là “thiên triều” đột nhiên quan tâm tới lịch sử Kinh thánh?
Ai cũng biết là đại đa số người Trung Quốc tuyệt nhiên không liên quan gì đến các đạo Abraham (Đạo Hồi, Đạo Do Thái, Đạo Thiên Chúa – đều có chung nguồn gốc xuất xứ từ Trung Cận Đông). Chỉ khoảng vài trăm nghìn người Trung Quốc coi mình là người theo đạo Thiên chúa.

Cũng chừng ấy người theo Đạo Hồi, có rất ít người theo đạo Do thái. Nhân tiện đây cũng xin nói thêm là Tư lệnh Hải quân Israel, Đô đốc Eliezer Merom thường được cấp dưới gọi với biệt danh là “Người Tàu”.
Quả thực là nhân vật này có ngoại hình rất giống người Trung Quốc vì ông (không biết ông nội hay ông ngoại) của viên đô đốc chính là người Trung Quốc. Không nhẽ các nhân viên ngoại giao Trung Quốc có mặt tại vùng đất thánh Israel đông đến thế chỉ để làm mỗi một việc là đưa viên đô đốc Israel này quay trở về với hàng ngũ những tín đồ đạo Khổng?
 Từ giời, từ Vạn lý trường thành tới Bức tường Than khóc chỉ một tầm tay với. Ảnh và chú thích Reuters.
Từ Vạn lý trường thành tới Bức tường Than khóc chỉ một tầm tay với. Ảnh và chú thích Reuters.
Tiếp cận                  

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Israel được đánh giá là không quá nồng ấm nhưng cũng không đến nỗi  quá lạnh nhạt. Hoàn toàn có thể đồng ý với một chuyên gia bình luận có uy tín của tờ báo tiếng Do thái “Gaares” Yosi Melman trong bài báo “Các nhà ngoại giao Trung Quốc đang làm gì ở Israel” mới được đăng trên tờ báo tiếng Anh “The Jerusalem Post”:
“Mối quan hệ giữa hai nước (Israel- Trung Quốc) đang ở mức hợp lý, chúng ta có thể thỏa thuận được với nhau - và chỉ có thế - không hơn”. Israel không có bất kỳ một công cụ nào để gây sức ép đối với Trung Quốc. Tât cả mọi cố gắng của Israel từ trước đến nay nhằm thuyết phục Trung Quốc tham gia chính sách cấm vận chống lại một nước Iran đang tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân đều kết thúc thất bại.
Tuy vậy, ở một số các lĩnh vực khác, có thể nói quan hệ hai nước phát triển khá thành công. Một ví dụ cụ thể, kim ngạch thương mại giữa hai nước đang ở mức 8 tỷ USD, còn trong vòng 3 năm tới sẽ tăng lên mức 10 tỷ USD. Để so sánh: kim ngạch thương mại Israel-Nga chỉ có 3 tỷ USD.
          
Trung Quốc và Israel thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992. Nhưng ngay từ giữa những năm 1970 Israel đã là nước duy nhất trong số các nước công nghệ phát triển cung cấp cho Trung Quốc các loại vũ khí hiện đại (báo “Đất Việt” đã có bài về vấn đề này). Người làm trung gian cho các hợp động thương mại nói trên là thương gia có 2 quốc tịch Israel và Áo Shaul Aizenberg (nay đã qua đời).
Chính nhờ sự tác động của ông này mà các nhà sản xuất vũ khí Israel như các tập đoàn “Công nghiệp hàng không”, “Tadiran”, “Raphael” đã có thể ký với Trung Quốc các hợp đồng béo bở trị giá hàng tỷ USD.
Nổi bật nhất trong các phi vụ kể trên là dự án “Falcon” lắp đặt hệ thống radar cảnh báo sớm do Israel sản xuất cho các máy bay vận tải Il-76 của Trung Quốc do Nga sản xuất.
Sau khi được lắp đặt hệ thống này, các máy bay chuyên vận tải Il-76 đã trở thành loại máy bay tác chiến thực sự của Không quân Trung Quốc. 

Cũng chính một trong số các tập đoàn của Israel đã ký với Trung Quốc một hợp đồng khác về việc hiện đại hóa các máy bay Harpy mà Bắc Kinh đã mua trước đó. Tuy nhiên người Mỹ đã gây sức ép buộc phía Israel phải hủy hợp đồng vì lúc đó Mỹ đã coi Trung Quốc là quốc gia đang có tham vọng trở thành siêu cường, có nghĩa sẽ trở thành đối thủ của Mỹ trong tương lai.
Tổng thống Mỹ lúc đó là B. Clinton đã ra tối hậu thư cho Israel – hoặc là ngay lập tức hủy các hợp đồng quân sự với Bắc Kinh, hoặc là Mỹ sẽ chấm dứt mối quan hệ hợp tác chiến lược với người Do thái.
Lẽ dĩ nhiên là Israel không thể “hy sinh” mối quan hệ chiến lược với một siêu cường mạnh nhất thế giới hiện nay để đổi lấy hợp đồng trên với Trung Quốc trong khi chính Israel đang bị bao vây bới các quốc gia láng giềng không mấy hữu nghị.
Bên cạnh đó, cũng còn phải tính đến một thực tế là công nghiệp quốc phòng của Israel phụ thuộc nhiều vào nền công nghiệp quốc phòng Mỹ. Kết quả là, Israel dưới sức ép của Mỹ đã không chỉ đánh mất một cơ hội tăng cường sự hiện diện của mình tại một trong những thị trường lớn nhất thế giới, mà ở một khía cạnh nào đó còn thể hiện sự lệ thuộc của mình vào Mỹ.
Trong vụ này Israel đã phải bồi thường cho Trung Quốc hơn một nửa tỷ USD vì đã đơn phương hủy hợp đồng.
        
Không nản chí 

Thất bại trong hợp tác thương mại quân sự với người Israel không làm cho Trung Quốc nản chí. Bắc Kinh đã quyết định sử dụng nhà nước Do thái như là một “cái cổng” để thâm nhập vào thế giới công nghệ cao Phương Tây.
Cũng trong bài báo vừa nói ở trên, Melman tiếp tục đặt vấn đề: “Tại sao Trung Quốc lại triển khai một đội quân ngoại giao hùng hậu và sử dụng rất nhiều nhân viên tại Đại sứ quán của minh ở Tel- Aviv?”.
“Tại sao người Trung Quốc lại có mặt ở Israel nhiều như vậy- nhan nhản các quan chức chính trị và giáo dục, tùy viên khoa học, quân sự và các sỹ quan tình báo?” và cũng chính ông đưa ra kết luận: “Câu trả lời chỉ có một- đó là để hoạt động gián điệp”.
Nhà bình luận Israel này cho rằng người Trung Quốc ở Israel đang “tìm mọi cách để thu thập mọi thông tin có thể về quốc gia Israel, đặc biệt là khả năng công nghệ hiện đại”.         

Dĩ nhiên, sẽ là không đúng nếu nghĩ rằng Trung Quốc chỉ tiến hành hoạt động gián điệp ở Israel. Đã có nhiều nhân viên tình báo của Trung Quốc bị phát hiện ở Mỹ khi đang tìm cách tiếp cận các tài liệu về dự án máy bay đa năng thế hệ mới nhất F-35 và các phiên bản mới nhất của hệ thống tên lửa Patriot.
Các nhân viên của Cơ quan an ninh Israel khi thực hiện các nhiệm vụ phản gián đã đặc biệt lưu tâm đến việc người Trung Quốc đang cố tìm cách tiếp cận các tổ chức của nhà nước Do Thái có liên quan đến các hợp đồng đã ký với Mỹ về việc cung cấp cho Quân đội Israel chính các máy bay F-35 và các tổ hợp Patriot như đã nói ở trên.
Còn tại Australia, mạng lưới điệp viên Trung Quốc đã xâm nhập được vào mạng máy tính của Cơ quan tình báo nước này và ăn cắp được nhiều thông tin quan trọng.
Tờ báo có uy tín của Đức “Frankfuter Allgemaine” đã lưu ý độc giả đến “những nỗ lực” của các nhân viên tình báo từ Bộ an ninh quốc gia Trung Quốc. Tờ báo Đức nhận xét: “Mối quan tâm hàng đầu của các gián điệp Trung Quốc là các nghiên cứu công nghệ và khoa học mới, cũng như các thông tin liên quan đến quân sự”.

Để có thể tiếp cận các công nghệ Phương Tây, Bắc Kinh đã xây dựng cả một “Chương trình thu thập thông tin”, sử dụng cả phương pháp hợp tác hợp pháp lẫn các phương thức bất hợp pháp. Trong chương trình này, các nhân viên tình báo có bình phong ngoại giao hợp pháp giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.
Tuy trên thực tế là như vậy, nhưng Trung Quốc luôn khăng khăng phủ nhận việc các nhân viên ngoại giao của mình có những hoạt động không phù hợp với quy chế ngoại giao.
Yosi Melman đã rất có lý khi nhận xét rằng “trong cuộc đua vì mục tiêu chủ yếu – trở thành siêu cường quân sự và kinh tế lớn nhất trên thế giới, người Trung Quốc sẵn sàng sử dụng bất kỳ thông tin nào từ bất kỳ quốc gia phát triển nào, nếu nó chứa đựng dù ít dù nhiều những nội dung công nghệ phức tạp”. 
Israel hấp dẫn Trung Quỗc bởi vì, một mặt, nước này được coi là nước công nghệ phát triển cao, mặt khác – nó có mối quan hệ lâu dài và chặt chẽ với tổ hợp công nghiệp quốc phòng Mỹ và các nước Phương Tây khác.
Các nhân viên Cơ quan an ninh Israel đã nhiều lần phát hiện được các nhân viên tình báo Trung Quốc tìm cách tuyển mộ những nhân vật quan trọng của nền công nghiệp quốc phòng và các sỹ quan quân đội Israel làm điệp viên cho tình báo Trung Quốc.
  
Tấn công

Rất có thể, Đại sứ quán Trung Quốc ở Tel-Aviv, cũng giống như đại sứ quán một số quốc gia khác đã biến thành sào huyệt cho SIGINT (signal intelligence- tình báo điện tử, hay nói cách khác, gián điệp kỹ thuật vô tuyến) ngay bên trong lãnh thổ Israel.
Cơ quan an ninh Israel cho rằng các phương tiện siêu hiện đại trong Đại sứ quán nước này đã có một thời kỳ giúp người Trung Quốc xâm nhập được vào các phương tiện viễn thông của Israel và giải mã được các thông tin đã mã hóa.

Một trong những chuyên gia hàng đầu của Israel trong lĩnh vực an ninh vũ trụ, mạng và công nghệ là giáo sư, Thiếu tướng nghỉ hưu Isaac Ben-Israel, tác giả các cuốn sách “Đối thoại về tình báo” (1989) và “Triết học tình báo” (1990) mới đây đã tuyên bố rằng quốc gia Do Thái hàng ngày phải đối mặt với hàng trăm cuộc tấn công mạng.
Tất nhiên, vị giáo sư đáng kính này (được thủ tướng B. Netanyahu bổ nhiệm làm Giám đốc Cục an ninh mạng cách đây 2 năm), do nhiều lý do khác nhau không thể chỉ đích danh thế lực nào đứng đằng sau các cuộc tấn công mạng đó.
Tuy nhiên, theo nhiều nguồn thông tin có liên quan trực tiếp với Cơ quan an ninh Israel thì  trong số các tin tặc tấn công các mạng điện tử của Israel có không ít các nhân viên cơ quan đặc biệt Trung Quốc. 

Cũng liên quan đến vấn đề này, mới đây một phóng viên điều tra nổi tiếng của tờ báo Ý “Stampa” là Maurisio Molinari đã tiến hành một cuộc điều tra. Nếu tin vào những kết quả điều tra của ông này thì trụ sở của các tin tặc Trung Quốc chính là đơn vị số 61389 đóng tại Thượng Hải. Cũng theo Molinari thì từ đơn vị này các nhân viên đặc biệt Trung Quốc có thể tấn công không gian mạng trên toàn thế giới.

Để chống lại các cuộc tấn công mạng (không chỉ từ phía Trung Quốc), Cơ quan an ninh Israel đã thành lập 2 phân đội kỹ thuật đặc biệt. Phân đội thứ nhất có nhiệm vụ bảo vệ mạng máy tính và các máy tính có lưu giữ các thông tin mật. Ví dụ như về lò phản ứng hạt nhân ở thị trấn Dimon tại sa mạc Negev.
   
Phân đội thứ hai hoạt động theo các phương pháp truyền thống “săn gián điệp”. Nói cách khác là theo dõi, nghe trộm các cuộc điện thoại và xâm nhập vào các tòa nhà của các cơ quan đại diện ngoại giao. Tuy nhiên, để tiến hành các công việc như trên đối với người Trung Quốc, đòi hỏi phải có sự huấn luyện đặc biệt và phải cực kỳ cẩn thận.
Cũng không mấy khó hiểu về vấn đề này. Yosi Melman đã giải thích như sau: “Chống lại các hoạt động gián điệp của các nước không phải là kẻ thù công khai của Israel là một công việc rất tế nhị, đặc biệt là nếu để chống lại một siêu cường đầy kiêu hãnh” (ám chỉ Trung Quốc).

Hoạt động gián điệp “nhộn nhịp” của Trung Quốc ở Israel tuyệt đối không có nghĩa là nước này không quan tâm đến sự hợp tác công khai với Bộ quốc phòng và các cơ quan đặc biệt Israel. Các đoàn đại biểu quân sự hai nước thường định kỳ tiến hành các cuộc thăm viếng lẫn nhau.
Cách đây không lâu tại Jerusalem đã diễn ra các cuộc Hội đàm giữa Tướng Phòng Phong Huy, Tổng Tham mưu trưởng PLA với người đồng cấp Israel Beni Gans. Các quan chức quân sự cao cấp hai nước đã thảo luận nhiều nội dung, trong đó có cả việc mở các khóa huấn luyện tại Israel cho lực lượng  đặc nhiệm Trung Quốc để trấn áp các phong trào Hồi giáo cực đoan ở Tân Cương.
      
Trong buổi họp báo sau Hội đàm, Tướng Phòng Phong Huy đã nhấn mạnh: “Phía Trung Quốc rất quan tâm đến việc phát triển các mối quan hệ với Quân đội Israel. Mục tiêu của chúng tôi là làm sâu sắc hơn sự hợp tác thực tế và cùng có lợi giữa quân đội hai nước trong tất cả các lĩnh vực”.

Thay lời kết

Người ta cho rằng người đặt nền móng cho truyền thống hoạt động của tình báo Trung Quốc chính là nhà chiến lược Tôn Tử sống vào khoảng thế kỷ thứ IV hoặc thứ VI trước công nguyên. Ông đã đề cập đến nội dung này trong cuốn  “Nghệ thuật chiến tranh”  (hay còn gọi là “Binh pháp Tôn Tử”).
Một điều thú vị là ngay cả một sỹ quan tình báo CIA kỳ cựu – Allen Dalles trong cuốn sách “Nghệ thuật tình báo” của mình cũng đã trích dẫn một số nội dung trong Binh pháp của Tôn Tử tại một chương của cuốn sách có tiêu đề “Sử dụng các điệp viên mật” – những nội dung liên quan đến phương thức hoạt động gián điệp.
Người Trung Quốc đã áp dụng các phương thức đó  từ những năm 400 trước công nguyên cho đến tận ngày nay. Theo quan điểm của Dalles thì chính Tôn Tử là người đầu tiên đưa ra các khái niệm về phương pháp hoạt động gián điệp và phân tích chi tiết các phương pháp đó.
Cuốn “Nghệ thuật chiến tranh” này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Việt Nam và nhiều thứ tiếng khác.

“Bản chất của chiến tranh là lừa dối” – biết nhưng phải làm ra vẻ như không biết” – Tôn Tử viết. Không còn nghi ngờ gì nữa, các gián điệp Trung Quốc đã thực hiện một cách xuất sắc những lời di huấn của bậc tiền bối từ hơn 2.000 năm trước.
              
Lê Hùng (Lược dịch - Bài được gửi về từ Jerusalem)

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Sức mạnh quân sự Việt Nam

(ĐVO) - Có thể thấy Quân đội nhân dân Việt Nam đã được chuẩn bị kỹ càng mọi mặt để sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc một cách bình tĩnh, tự tin . . .


Trong lịch sử Việt Nam, có bao nhiêu cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống xâm lăng là có bấy nhiêu lần quân xâm lược cậy có quân đông, vũ khí mạnh, đánh giá thấp Việt Nam và do đó đã phải trả giá đắt như thế nào chúng ta đã rõ. Căn bệnh chung của những kẻ xâm lược này là thiếu tôn trọng đối phương ở mức tối thiểu, ngang ngược, đe dọa, ỷ lớn hiếp nhỏ... và kết cục của “căn bệnh” ấy là thảm bại.
Vị thế Việt Nam
Kết quả chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Nước Việt Nam Trương Tấn Sang theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ  B. Obama vừa qua đã khiến cho giới quan sát, phân tích, bạn bè trên thế giới, cũng như nhân dân Việt Nam quan tâm đặc biệt.
Mối quan hệ “đối tác toàn diện” giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã khẳng định Việt Nam không theo ai để gây sức ép với ai cả. Quan hệ với Hoa Kỳ là đương nhiên của một quốc gia độc lập với một cường quốc thế giới, phù hợp với lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Quan hệ với Việt Nam cũng phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ tại châu Á-TBD.
Rõ ràng đây là mối quan hệ bình đẳng 2 bên đều có lợi trên cơ sở tôn trọng chế độ chính trị, chủ quyền của nhau…và chỉ có thể được xác lập trên cơ sở vị thế của 2 bên mà trong đó Hoa Kỳ được xác định là một cường quốc hàng đầu châu Á-TBD.
Vị thế của Việt Nam trong khu vực cũng khá quan trọng. Vị thế đó đủ để Việt Nam triển khai một chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, bình đẳng, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

ExxonMobil đã khoan một số giếng tại lô 118 và tìm thấy khí. Khu vực này nằm ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, thuộc vùng biển các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam, rất gần đường chín đoạn mà Trung Quốc lập ra để đòi hỏi chủ quyền Biển Đông và do vậy bị Trung Quốc liệt vào vùng tranh chấp.  Nhưng Việt Nam (tất nhiên) và ExxonMobil cho rằng đây hoàn toàn là khu vực chủ quyền của Việt Nam và có thể khai thác hợp pháp. Tuyên bố chung Việt - Mỹ 25/7/2013, có thể thấy quan điểm rõ ràng của Washington trong việc làm ăn với Việt Nam ở Biển Đông.
ExxonMobil đã khoan một số giếng tại lô 118 và tìm thấy khí. Khu vực này nằm ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, thuộc vùng biển các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam, rất gần đường chín đoạn mà Trung Quốc lập ra để đòi hỏi chủ quyền Biển Đông và do vậy bị Trung Quốc liệt vào vùng tranh chấp. Nhưng Việt Nam (tất nhiên) và ExxonMobil cho rằng đây hoàn toàn là khu vực chủ quyền của Việt Nam và có thể khai thác hợp pháp. Tuyên bố chung Việt - Mỹ 25/7/2013, có thể thấy quan điểm rõ ràng của Washington trong việc làm ăn với Việt Nam ở Biển Đông.
Sức mạnh quân sự Việt Nam
Từ xưa tới nay, khi so sánh thực lực, vũ khí trang bị (VKTB) của Việt Nam với các đối tượng xâm lược như “châu chấu đá voi” nên không có gì phải bàn và…so sánh gì ở đây cả.
Vấn đề là sức mạnh quân sự của một đội quân đi xâm lược và sức mạnh quân sự của một đội quân phòng thủ bảo vệ Tổ quốc do tính chất khác nhau, điều kiện để phát huy sức mạnh từ thực lực, VKTB khác nhau, chiến thuật khác nhau…do đó sức mạnh thật sự, đích thực sẽ có sự khác nhau.
Đây là những nội dung mà ta cần so sánh, đánh giá, nhưng chỉ đơn thuần là sức mạnh quân sự mà không tính đến yếu tố sức mạnh khác như tinh thần hay ý chí, bản lĩnh, trí tuệ…
Rõ ràng đội quân xâm lược luôn có lực lượng hùng hậu, VKTB hiện đại tiên tiến, nhưng khi tiến hành chiến tranh chúng không thể mang hết toàn bộ để sử dụng như trong lý thuyết. Trong chiến tranh với Mỹ, Mỹ bắt buộc chỉ dùng một phần lực lượng để tham chiến ở miền Nam Việt Nam
(Tuy nhiên, trước nguy cơ thất bại, leo thang chiến tranh là bản chất ngoan cố, tàn bạo của quân xâm lược, nhưng đây là “tập 2” của cuộc chiến mà có dịp chúng ta bàn sau)
Với Việt Nam, lực lượng tuy ít nhưng VKTB tiên tiến hiện đại không bị thua kém nhiều lại đặt trong một thế trận có lợi nên có thể biến ít thành nhiều, biến không thành có.
Chẳng hạn, để tấn công đánh chiếm một hòn đảo của Việt Nam (đương nhiên là rất gần Việt Nam và sẽ rất xa với địch) thì địch sẽ rất cần tàu sân bay, trái lại Việt Nam có rất nhiều “tàu sân bay không thể đánh chìm”. Việt Nam chưa có vệ tinh quân sự để trinh sát khắp thế giới nhưng có những vị trí để trinh sát kỹ thuật đủ để bao trùm khu vực cần quan tâm.
Có loại máy bay tiêm kích nào có thể tác chiến trên một khu vực ngoài tầm bay? Không có! Nhưng khi có tàu sân bay hay khi có máy bay tiếp dầu thì chúng lại có thể. Do đó, địch mua sắm, chế tạo tàu sân bay, SU-35, hay làm nhái lại các vũ khí mà chúng mua của nước ngoài, tàu đổ bộ cỡ lớn…chỉ là đáp ứng yêu cầu tác chiến chứ không phải, không thể, không hẳn để chiếm được ưu thế tác chiến.

Chúng không thể thiết lập một vùng cấm bay, vì sao ư? vì chúng chưa có khả năng chiếm ưu thế trên không với ta trong hiện tại và tương lai gần, chúng chiến đấu là vì tiền còn chúng ta chiến đấu vì chính nghĩa. Ông cha của chúng chuyên đi ăn hiếp kẻ yếu, nước nhỏ cả ngàn năm rồi. Còn trên mặt biển hay dưới nước cũng vậy, khả năng chúng tạo được lợi thế với ta chỉ là số lượng vũ khí "Made in làm giả" không đáng tin cậy, chưa vận hành đã gây ồn ào, chưa khai hỏa đã phải chết yểu, còn vũ khí của chúng mua của nước ngoài ư? cũng không đến mức phải lo lắng bởi vì: một đất nước luôn đi gây rối loạn và gây chiến với toàn bộ láng giềng của mình thì làm sao mà có thể tin tưởng  bán vũ khí hiện đại bậc nhất hay vũ khí chiến lược cho chúng được, bán cho chúng rồi để chúng quay lại "chơi"  mình hay sao? Vũ khí hạt nhân của chúng ư? càng không đáng phải suy nghĩ. Chúng "dám" khai hỏa không? xin thưa: không bao giờ, còn Nga, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc châu, Nhật Bản, v.vv chúng vuốt mặt phải nể mũi chứ, còn chưa kể Việt Nam đã ký vào nhóm nước không phổ biến vũ khí hạt nhân và nếu có thì khi đó cuộc chiến đã trở nên toàn bộ và tổng lực thì chưa biết mèo nào đã thắng mèo nào đâu.

Do khu vực tác chiến rất xa căn cứ cho nên chiến thuật của địch phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ và thiếu sự sáng tạo. Đây là mặt hạn chế giống như “mặt sau tấm huy chương” của bất kỳ lược lượng xâm lược, viễn chinh nào.
Việt Nam hoạt động tác chiến với địch trên “sân nhà” nên giữa VKTB và chiến thuật có sự gắn kết bền chặt, thậm chí có những điều công nghệ không thể thì chiến thuật có thể. Khu vực tác chiến chỉ trong phạm vi của đất nước nên chiến thuật ít phụ thuộc vào công nghệ do đó có nhiều cách lựa chọn phối hợp với công nghệ.
Đối phương có SU-35 hay SU-50 đi nữa, có tàu chiến bắn xa hàng trăm km…thì Việt Nam có cách đánh khác nên VKTB Việt Nam không nhất thiết cũng phải như vậy.
Khi đối phương có chiến hạm bắn xa hàng trăm km thì vấn đề của chúng ta không phải là làm sao phải có chiến hạm tương tự mà là làm sao với địa hình địa lợi sẵn có, tổ chức, bố trí lực lượng ra sao, chiến thuật gì để chiến hạm có tầm bắn ngắn hơn vẫn đánh được và đánh thắng chúng. Chúng ta có những "vũ khí chiến lược", khi tham chiến lúc đó mới có thể biết được.
Có thể thấy hiện nay chưa bao giờ quân đội Việt Nam được chuẩn bị kỹ càng mọi mặt, sẵn sàng để bảo vệ Tổ quốc một cách bình tĩnh, tự tin như thế.
Tuy nhiên, quy luật của chiến tranh là “mạnh được yếu thua”, sức mạnh quân sự không phải là yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chiến tranh. Sức mạnh tổng hợp đó có được từ vị thế đất nước, từ sức mạnh tinh thần và sức mạnh quân sự.