Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Một nền giáo dục nông nổi và sặc mùi thương mại

Cả ngàn cử nhân làm công nhân tại một doanh nghiệpCả ngàn công nhân có bằng đại học đang làm việc tại Cty Poster Đà Nẵng. Ảnh: Thanh Hải

NGHỊCH LÝ NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐÀ NẴNG:

Cả ngàn cử nhân làm công nhân tại một doanh nghiệp

(LĐ) - Số 48 - Thứ tư 06/03/2013 10:57
    Tại Cty TNHH điện tử Poster Đà Nẵng, hiện có gần 1.000 cử nhân làm việc ở vị trí... công nhân. Đây chỉ là một phần nhỏ, minh chứng cho sự bất cập, mất cân đối của việc đào tạo nguồn nhân lực hiện nay.
    “Ông cử, bà cử” làm công nhân

    Giám đốc nhân sự Cty TNHH điện tử Poster Đà Nẵng - ông Lê Duy Lương - cho biết, Cty này hiện có 16.000 CN, nhưng có đến cả ngàn người có bằng cử nhân, kỹ sư. Cá biệt, có CN có cả 2 bằng cử nhân, hoặc cả hai vợ chồng đều là “ông bà cử” làm CN tại Cty. Tuy nhiên, thực tế con số CN có bằng ĐH còn nhiều hơn hàng ngàn người công khai đăng ký trong hồ sơ nhân sự. Theo ông Lương, hầu hết các bạn có bằng ĐH mà làm CN tại Cty đều mặc cảm với quê hương, gia đình và bạn bè. Họ không muốn công khai lộ diện danh tính và Cty cũng không đòi hỏi bằng cấp. Nhiều người có bằng ĐH nhưng chỉ khai trình độ lớp 9, 12... Mặt khác, họ giấu thông tin cá nhân là vì trước đây, từ năm 2009 trở về trước, Cty chúng tôi không nhận CN có bằng ĐH với lý do số lao động này hay “nhảy việc”, bất ổn định.

    Từ thực tế tại Cty Poster, ông Lương đúc kết, có 3 nguyên nhân chính khiến các cô cậu cử nhân, kỹ sư phải chấp nhận làm CN với mức lương thấp, lãng phí kiến thức ĐH của mình là “không xin được việc làm”; “thực trạng mất kiểm soát ở các DN tư nhân về chế độ chính sách như BHYT, BHXH, chế độ thai sản, chính sách cho lao động nữ... khiến người lao động ở khối DN này bị chịu nhiều thiệt thòi” và nguyên nhân nữa là “làm tạm để chờ xin việc”. Dẫu với nguyên nhân gì thì việc cả ngàn người có bằng ĐH chấp nhận làm CN cũng khiến chúng tôi áy náy khi tuyển dụng, trả lương. Thực tế, mọi lao động sau khi được tuyển dụng vào làm CN đều được Cty đào tạo như nhau. Họ chỉ cần làm 1 công đoạn của dây chuyền lắp ráp linh kiện tai nghe - sản phẩm chính của Cty Poster.

    Bạn N.H.L- tốt nghiệp ĐH Kinh tế ĐN, ngành ngoại thương- đành chấp nhận làm CN tại Cty 3 năm nay sau khi tìm không được việc ở khắp nơi. Chồng cô cũng tốt nghiệp ĐH Bách khoa Đà Nẵng nhưng cũng đang thất nghiệp, gia cảnh khốn khó vì phải thuê nhà trọ, nuôi con nhỏ. N.H.L rơi nước mắt nhưng không muốn chia sẻ kỹ vì sợ bố mẹ ở quê buồn phiền, xấu hổ với bạn bè thời ĐH ngày xưa. Còn N.H.H tốt nghiệp ĐH loại khá, có đầy đủ các chứng chỉ tin học, tiếng Anh ... nhưng đành vứt bỏ tất cả kiến thức để làm CN. N.H.H nói, thực tế em có làm việc ở một số DN tư nhân, nhưng không được mua BHXH, không có chế độ thai sản, bảo hiểm tai nạn... cho người lao động. Trong khi đó, lương CN ở Cty Poster cũng tương đương các DN kia, các chế độ chính sách cho người lao động trước mắt cũng như lâu dài rất đảm bảo. Vì vậy em sẽ gắn bó nơi này. Cũng chính từ thực tế này mà từ 2010, Cty Poster Đà Nẵng đã “mở rộng” đối tượng, tuyển chọn người có bằng ĐH về làm CN.

    Mất cân đối về đào tạo

    Sau 3 năm liên tiếp đứng đầu toàn quốc về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI), năm 2012 TP.Đà Nẵng bị tuột xuống thứ... năm. Trong đó, chỉ số về nguồn nhân lực bị tuột điểm nhiều nhất. Theo các DN trên địa bàn, việc tuyển dụng nhân sự hiện rất khó. Thậm chí, DN trực tiếp nhận hồ sơ, phỏng vấn tại các hội chợ việc làm nhưng vẫn không tìm được lao động. Trong khi đó, báo cáo của Sở LĐTBXH cho hay, hệ thống đào tạo nghề của địa phương đã nâng cao, mở rộng với quy mô rộng khắp, đủ các ngành nghề, sát với thực tiễn ở 60 cơ sở. Mỗi năm, con số lao động qua đào tạo trên dưới 30.000 người. Vì sao lại có nghịch lý này?

    Phó GĐ Sở LĐTBXH TP.Đà Nẵng - ông Nguyễn Văn An - cho biết, kết quả khảo sát của ngành LĐTBXH đầu năm 2012, có đến 49% (trong tổng số 70.000 CN) CN lao động tại Đà Nẵng là dân nhập cư. Điều này chỉ hợp lý với thời điểm hơn 10 năm trước, khi đó các DN đều đầu tư vào các ngành nghề gia công, may mặc... nên nhu cầu tuyển lao động nhiều nhưng không đòi hỏi tay nghề cao. Tuy nhiên, những năm gần đây, loại hình đầu tư này dần dịch chuyển về nông thôn, các địa phương lân cận cũng hình thành các KCN, có nhà máy và lực lượng lao động nhập cư bị thâm hụt vì họ rút về quê. Trong khi đó, cư dân Đà Nẵng lại “chê” công việc lao động chân tay, nhưng lại thiếu trình độ cao để vào các DN công nghiệp công nghệ cao, đòi hỏi tay nghề chất lượng.

    Ngoài ra, việc giáo dục đào tạo nghề trong vài chục năm gần đây gần như phát triển nóng, bị thả nổi về công tác sàng lọc chất lượng, định hướng nghề nghiệp, dẫn đến thực trạng nguồn nhân lực sau đào tạo vừa thiếu lại vừa thừa. Như ngành sư phạm, mỗi năm TP có trên 300 sinh viên tốt nghiệp, song địa phương chỉ tuyển dụng 15 - 20 người. Việc thừa, dồn ứ giáo viên thất nghiệp nhiều năm lên đến con số hàng ngàn người. Sự dôi dư này vừa gây lãng phí cho xã ,vừa tạo áp lực giải quyết việc làm cho địa phương. Ở Đà Nẵng đang tồn tại thực trạng cử nhân, kỹ sư dôi thừa, thất nghiệp, nhưng cần lao động nghề thì tuyển không ra.

    Hàng ngàn cử nhân thất nghiệp

    Gần 12.000 thanh niên ở tỉnh Nghệ An tốt nghiệp ĐH, CĐ, TCCN chưa có việc làm đang là nỗi lo của nhiều gia đình. 

    Diễn ra ở nhiều nơi
    Sở GD-ĐT Nghệ An thực hiện khảo sát tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Kết quả cho thấy đến đầu năm 2013, trong số 20/21 huyện, thị có 11.569 người đã tốt nghiệp từ TCCN trở lên chưa tìm được việc làm. Trong đó có một thạc sĩ, 3.047 người tốt nghiệp ĐH, 4.042 người trình độ CĐ và 4.479 người TCCN.


    Ông Nguyễn Mạnh Hà - Trưởng phòng Giáo dục chuyên nghiệp Sở GD-ĐT Nghệ An - cho rằng dù kết quả chỉ mang tính tương đối vì số lượng sinh viên đã tốt nghiệp chưa có việc làm có thể còn cao hơn nhưng cũng đã làm ông giật mình vì con số sinh viên chưa có việc quá lớn. Mặt khác, số người có việc làm chưa chắc làm đúng chuyên môn đã được đào tạo.
    Hàng ngàn cử nhân thất nghiệp
    Nhiều doanh nghiệp cần tuyển thợ lành nghề trong khi các trường dạy nghề ở Nghệ An rất ít người học - Ảnh: K.Hoan
    Mỗi năm, Nghệ An có khoảng 20.000 sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường từ TCCN đến ĐH trên cả nước. Theo thống kê của Sở GD-ĐT, đến nay tỉnh đang dư thừa hơn 3.600 giáo viên ở các cấp học. Trong khi đó, mỗi năm tại Nghệ An vẫn có khoảng vài ngàn sinh viên ngành sư phạm ra trường.
    Việc sinh viên ra trường không tìm được việc làm diễn ra ở nhiều vùng, miền trong tỉnh, đặc biệt là các huyện miền núi. Theo số liệu thống kê nói trên, huyện biên giới Kỳ Sơn hiện có 343 người đã tốt nghiệp ĐH, CĐ, TCCN chưa tìm được việc; huyện Tương Dương là 562, Quỳ Châu là 184 người... 
    Hậu quả của việc mở trường tràn lan ?
    Theo ông Nguyễn Mạnh Hà, sinh viên ra trường thất nghiệp quá nhiều là hệ quả của việc mở quá nhiều trường ĐH, CĐ trong khi chất lượng đào tạo ở một số trường chưa tốt. Mặt khác, tâm lý thích làm thầy hơn làm thợ của học sinh trước khi lựa chọn nghề nghiệp tương lai đã tạo ra áp lực việc làm dù thực tế ở Nghệ An đang thừa thầy thiếu thợ.
    Trước đây, học sinh ở Nghệ An chủ yếu nộp hồ sơ thi vào các trường ĐH, CĐ ở Hà Nội, nhưng 3 năm trở lại đây học sinh chuyển hướng thi vào các trường ở phía nam để có cơ hội tìm việc làm sau khi ra trường. Xu thế này đã giúp Nghệ An bớt căng thẳng tình trạng thất nghiệp nhưng con số thống kê nêu trên vẫn là vấn đề đáng lo ngại của tỉnh.
    Sở Nội vụ Nghệ An cũng cho biết đợt thi tuyển công chức năm nay chỉ tiêu 120 người nhưng đến thời điểm này đã nhận được 1.856 hồ sơ đăng ký dự tuyển. Vì thế, cuộc “chạy đua” này vô cùng khốc liệt. “Để con mình cầm được tấm bằng cử nhân sau 4 năm mài đũng quần ở trường ĐH, gia đình phải mất ít nhất 120 triệu đồng, trong đó rất nhiều gia đình phải chạy vạy vay mượn. Con số này nhân lên cho hàng ngàn sinh viên đã tốt nghiệp là một số tiền khổng lồ. Thế nhưng không có việc, nhiều em phải đi xuất khẩu lao động làm công nhân hoặc đi làm công việc không đúng chuyên môn đã được đào tạo là một lãng phí rất lớn. Lâu nay chúng ta cứ nói hướng tới mục tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội, nhưng trong thực tế hiện nay đó cũng mới chỉ là khẩu hiệu mà thôi. Nhiều trường do thiếu chỉ tiêu nên họ chỉ mong làm sao lôi kéo được học sinh vào học là thành công chứ họ đâu tính đến đầu ra cho học sinh của mình. Và hậu quả là tình trạng thất nghiệp tràn lan sau khi ra trường”, ông Hà tâm tư.
    Để giúp học sinh định hướng nghề nghiệp tương lai phù hợp với nhu cầu xã hội và khả năng của mình, Sở GD-ĐT Nghệ An cho biết năm nay sẽ chỉ đạo các trường THPT tổ chức tư vấn, hướng nghiệp kỹ cho học sinh trước khi đăng ký dự thi ĐH, CĐ, TCCN.
    Khánh Hoan

    Trung Quốc và Philipines: Phải chăng không còn gì để nói?


    (ĐVO) - Dư luận và các quốc gia trong khu vực ĐNA bông dưng đượm buồn và hết sức lo lắng khi mới đây, ngày 9/7, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng, "Philippines đã nỗ lực rất nhiều gần như đã "kiệt sức" khi thử tất cả các kênh chính trị và ngoại giao để tìm kiếm một giải pháp hòa bình trong tranh chấp với Trung Quốc, tuy nhiên (những nỗ lực này) đã không thành công".

    Tại sao Philipines đã bị “kiệt sức”?

    Philippines là 1 trong số 6 nước có tuyên bố chủ quyền trên biển Đông gây tranh cãi và căng thẳng nhất với Trung Quốc.

    Philippines có tranh chấp trên biển với Trung Quốc 2 nơi là Bãi Cỏ Rong và Scarborough.

    Tại bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham.

    Bằng lực lượng bán vũ trang và dân sự, 34 tàu lớn nhỏ của Trung Quốc đã bao vây, xua đuổi tàu của Philippines ra khỏi bãi cạn, khu vực ngư trường truyền thống của Philippines.
    Ngày 28/5, mặc dù Trung Quốc và Philippines vẫn đang xảy ra căng thẳng trong tranh chấp bãi cạn Scarborough, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gazmin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã một cuộc hội đàm ngắn tại Phnom Penh, Thủ đô Campuchia. Trong hội đàm, tướng Lương Quang Liệt tuyên bố: bãi cạn Scarborough (đảo Hoàng Nham) là của Trung Quốc (!?).
    Ngày 28/5, mặc dù Trung Quốc và Philippines vẫn đang xảy ra căng thẳng trong tranh chấp bãi cạn Scarborough, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gazmin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã một cuộc hội đàm ngắn tại Phnom Penh, Thủ đô Campuchia.

    Hỗ trợ cho hành động này, dư luận như đang còn nghe những lời đe dọa nào là “dạy cho Philippines một bài học về tính dân tộc hung hăng”, nào là “xử” Philippines như Mỹ và NATO “xử” Libi mà đài truyền hình CCTV “lỡ thốt nên lời”… và còn như thấy những hành động mang tính răn đe cao như “Quân khu Quảng Đông sẵn sàng đợi lệnh”; “Hạm đội Nam Hải hình thành 2 gọng kìm hướng vào Philippines”, rồi “tung 5 tàu chiến Trung Quốc mang theo 48 quả tên lửa hướng về phía Philippines” vân vân và vân vân.

    Kết quả đến hôm nay, Trung Quốc đã hoàn toàn chiếm giữ bãi cạn, thực sự “chấm dứt việc đánh bắt của ngư dân Philippines quanh bãi cạn Scarborough”. Chính phủ Philipines đã công nhận sự thật cay đắng này, sau khi có sự tranh cãi do “đi đêm” trong đấu tranh nên bị “mắc lừa” Trung Quốc, họ hứa mà không thực hiện…
    Bãi cạn Scarborough, mới ngày nào là ngư trường của Philipines, giờ Trung Quốc đã chiếm đoạt. Philipines không còn cách nào khác, quyết định kiện Trung Quốc ra tòa án LHQ về Biển Đông.

    Để “dạy cho Philipines một bài học”, Trung Quốc đẩy tình hình tranh chấp bãi Cỏ Mây với Philipines lên một nấc thang căng thẳng mới.

    Có thể nói thời gian này, Trung Quốc xỉ vả, đe dọa, tuyên bố…với Philipines “không tiếc lời”, căm ghét Philipines như “xúc đất đổ đi”.

    Ngoại trưởng Philippines, ông Albert del Rosario, ngày 9/7 cho rằng, "Philippines đã nỗ lực rất nhiều gần như đã "kiệt sức" khi thử tất cả các kênh chính trị và ngoại giao để tìm kiếm một giải pháp hòa bình trong tranh chấp với Trung Quốc, tuy nhiên (những nỗ lực này) đã không thành công".

    Trong khi đó, Tân Hoa Xã ngày 12/7 đưa tin, Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng cáo buộc Philippines đã "đóng cửa" các cuộc đàm phán và tham vấn, đồng thời tấn công Trung Quốc trên trường quốc tế (kiện Trung Quốc ra toàn án quốc tế).
    Bà Hoa cho rằng, đánh giá của Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario là “không thực tế” và khẳng định, phía Trung Quốc nhiều lần đề nghị hai bên tiếp tục sử dụng cơ chế tham vấn hiện tại hoặc thiết lập một cơ chế tham vấn mới để giải quyết tranh chấp nhưng cho đến nay nó vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ Philippines”...

    Rõ ràng, dư luận ghi nhận đã có những “đề nghị” của Trung Quốc với Philipines, nhưng quá hiểu là tại sao Philipines lại kinh hãi, uất ức, với những “đề nghị” này như thế.

    Chẳng hạn, ngày 07/01/2013, Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Mã Khắc Khanh đã đưa ra đề nghị Bắc Kinh và Manila nên cùng nhau khai thác dầu khí tại khu vực Bãi Cỏ Rong trong khi chờ đợi một giải pháp lâu dài giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

    Dư luận thế giới hơi bị ngạc nhiên về đề nghị này của Bắc Kinh với Manila, bởi vì không hiểu sao Trung Quốc lại “thảo ăn” đến vậy. Có 2 miếng Trung Quốc “nuốt trọn” một là Scarborough thì còn miếng Bãi cỏ rong kia sao không nuốt luôn lại còn “chia phần” cho Philipines?

    Tuy nhiên, dư luận lại không ngạc nhiên về sự “thận trọng” của chính phủ Philipines bằng lời phát biểu của Ngoại trưởng Albert del lúc đó.

    Thận trọng, bởi đã quá nhiều lần “hợp tác tay đôi” với Trung Quốc trong vấn đề giải quyết tranh chấp trên biển Đông khiến Philipines nhận trái đắng.

    Thận trọng, bởi Philipines đang còn chưa hết đau bởi cú đấm Scarborough thì nhận được “lời đề nghị” từ nước lớn. Phlipines đâu có tính cách của ông AQ mà vui vẻ lại ngay, “vỗ ngực” coi Trung Quốc đã chịu lùi bước trước mình.
    Sự thận trọng còn cao hơn bởi một câu hỏi mà ai cũng muốn hỏi và được nghe trả lời là: “Tại sao Bắc Kinh không đề nghị Manila “gác tranh chấp, cùng khai thác” tại khu vực bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham mà chỉ “đề nghị” tại khu vực Bãi cỏ rong”?.

    Philipines chưa có bài học xương máu trong bảo vệ chủ quyền, nhưng thiết nghĩ bài học về bị mất chủ quyền cũng quá đủ để Philipines tỉnh táo với những “đề nghị” của phía Trung Quốc.

    Tại sao Trung Quốc hay “ra mặt” với Philipines?

    Trước hết, Philipines không phải là Nhật Bản hay Việt Nam. Do khả năng phòng thủ biển yếu kém, cho nên Philipines chỉ là  các “phép thử” của Trung Quốc trên Biển Đông.

    Đó là, thứ nhất, dùng Philipines để thử sách lược xâm lấn biển đảo bằng biện pháp dân sự (tàu cá có hỗ trợ của tàu chấp pháp, có sự đe dọa bởi các cuộc tập trận đằng sau, lấy thịt đè người, xua đuổi, ngăn chặn tàu thuyền của quốc gia đang tranh chấp, chiếm giữ và tuyên bố chủ quyền, như trên bãi cạn Scarborogh).

    Thứ hai là dùng Philipines, quốc gia duy nhất trong ASEAN có hiệp ước an ninh với Mỹ ký năm 1951, để nắn gân Mỹ, nắm khả năng can thiệp của Mỹ trên Biển Đông. Đụng đến Philipines mà Mỹ vẫn “thực dụng”, làm ngơ thì đụng vào các nước khác, Mỹ còn “thực dụng” như nào thì đã rõ, là thông điệp mà Trung Quốc muốn chuyển đến cho các nước có tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông.

    Lý do cuối cùng là Philipines như “bình rượu ngon và dễ mua” để thỏa mãn cơn say khát của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hiếu chiến Trung Quốc bất cứ lúc nào. Đồng thời, bằng cách “khẩu chiến” và đe dọa Philippines, chính quyền Trung Quốc có thể tạo hình ảnh cứng rắn, tinh thần yêu nước nhiệt tình và làm phân tán sự chú ý của dư luận về sự bất ổn nội bộ, “chuyển lửa” ra ngoài.

    Tuy nhiên, “con giun xéo lắm cũng quằn”, nếu như Trung Quốc thu được kết quả thì Philipines có được bài học là “bảo vệ chủ quyền phải tự mình, đừng mong chờ nước ngoài làm cho điều đó”. Philipines trong thời gian gần đây đã không ngừng tăng cường sức mạnh trên không, trên biển để bảo vệ chủ quyền, đặc biệt, sau lưng họ có một thế lực đang “tận tâm, tận lực” hỗ trợ mà Trung Quốc không cần “thử” cũng quá rõ sự nguy hiểm – Nhật Bản, quốc gia  châu Á, đầy “duyên nợ đắng cay” với Trung Quốc.

    Sự càng ngày càng gần gũi với Nhật Bản của Philipines khiến cho Trung Quốc không còn “đánh vì yêu, mắng vì thương” như trước mà giờ đây mang tính triệt hạ, hằn học.

    Với Trung Quốc, Philipines bây giờ chẳng còn gì để mất khi mọi nỗ lực tìm kiếm hòa bình cho các tranh chấp đã ‘kiệt sức”, họ chẳng còn gì để nói. Một tình cảnh đáng buồn cho quan hệ của 2 nước, nhưng đáng vui cho quan hệ Nhật Bản – Philipines?.
    Lê Ngọc Thống